Quotes in Vietnamese
81 quotes available in this translation
Thể Đạo
"Hóa công hồ dễ đặt tên, Khuôn thiêng hồ dễ mà đem luận bàn. Không tên sáng tạo thế gian, Có tên, là mẹ muôn vàn thụ sinh. Tịch nhiên cho thấy uy linh, Hiển dương cho thấy công trình vân vi. Hai phương diện một Hóa Nhi, Huyền linh khôn xuất huyền vi khôn lường. Ấy là chúng diệu chi môn, Cửa thiêng phát xuất mọi nguồn huyền vi."
Dưỡng thân
"Người đời thấy đẹp biết khen, Thế là cái xấu đã chen vào rồi. Điều hay đã rõ khúc nhôi, Thời đà dang dở lôi thôi sinh dần. Mới hay: Không có chuyển vần, Dễ sinh ra khó, vắn nhân thành dài. Thấp cao tùy ngó ngược xuôi, Tiếng ca, trầm bổng, dòng đời trước sau. Thánh nhân khinh khoát tầng cao, Vô vi, thầm lặng, tiêu hao dạy đời. Kìa xem muôn vật thảnh thơi, Im lìm sinh hoạt, một lời cũng không. Ngày đêm làm chẳng kể công, Công thành phơi phới, tuyệt không bận lòng. Không nấn ná lúc thành công, Cho nên tồn tại mãi cùng thiên thu."
An dân
"Không sùng thượng hiền tài trần thế, Cho dân gian bỏ lệ tranh đua, Không tham vật quí khó mua, Cho dân hết thiết đi vơ của người. Mọi vẻ đẹp bên ngoài chẳng thiết, Cho lòng dân cao khiết trong veo. Trị dân hiền thánh muốn điều, Ít ham, ít muốn, ăn nhiều uống no. Bao tơ tưởng làm cho yếu hết, Nhưng thịt xương sắt thép khang cường. Tò mò, cớ tưởng vấn vương, Dân ta ta giữ cho thường vô lo, Khiến người xảo quyệt mưu cơ, Sống trong cảnh ấy khó mà ra tay. Sống khinh khoát mảy may chẳng bợn, Thời muôn điều ngang chướng hết ngay."
Vô nguyên
"Đạo không hư dùng muôn đời không cạn, Sâu ngàn trùng, sinh ngàn vạn chúng sinh. Dấu sâu sắc, gỡ cho hết mối manh, Pha ánh sáng hòa mình cùng trần cấu. Nhưng trong trẻo, muôn đời không nhơ dấu, Ta chẳng hay, ngài sinh xuất từ đâu, Trước Thiên đế, (trước muôn ngàn hiện tượng)."
Hư dụng
"Đất trời chẳng có lòng nhân, Mà xem vạn vật in tầm chó rơm. Thánh nhân chẳng có lòng nhân, Mà xem bách tính in tầm chó rơm. Kiền khôn mở đóng khôn lường, Trống nhưng mãi mãi là nguồn hóa sinh. Thà rằng ôm ấp Đạo mình, Còn hơn vất vả thuyết minh suốt đời."
Thành tượng
"Trời bất tử, trường sinh bất tử, Cửa trường sinh là cửa càn khôn. Miên man muôn kiếp vẫn còn, Muôn nghìn biến ảo mà tuồng trơ trơ."
Thao quang
"Trời đất bền, không vì mình sống, Rẻ tấm thân, hiền thánh vinh danh. Khinh thân, chẳng xá chi mình, Vô tư nên mới hoàn thành riêng tư."
Dị tính
"Người trọn hảo giống in làn nước, Nuôi muôn loài chẳng chút cạnh tranh. Ở nơi nhân thế rẻ khinh, Nên cùng Đạo cả mặc tình thảnh thơi. Người trọn hảo, chọn nơi ăn ở, Lòng trong veo, cố giữ đức nhân. Những là thành tín nói năng, Ra tài bình trị chúng dân trong ngoài. Mọi công việc an bài khéo léo, Lại hành vi mềm dẻo hợp thời. Vì không tranh chấp với ai, Một đời thanh thản, ai người trách ta."
Vận di
"Bình nước đầy giữ sao khỏi đổ, Đổ chi đầy quá cỡ chứa chan? Ra công mài nhọn dao oan, Giữ sao cho được vẹn toàn trước sau? Đầy vàng ngọc nhà nào bền bỉ, Quá giàu sang chắc sẽ kiêu sa, Suy vong do đó sinh ra, Nên giờ vinh hiển là giờ thoái lui. Công thành thân thoái lẽ Trời."
Năng vi
"Làm sao đem hết xác hồn, Hòa mình với Đạo chẳng còn lìa xa. Làm sao giữ vẹn tinh hoa, Sống đời thanh thản, như là Anh Nhi! Làm sao rũ sạch hà tì, Gương lòng vằng vặc, quang huy vẹn tuyền! Thương dân trị nước cho yên, Vô vi mà vẫn ấm êm mới là! Cửa trời mở đóng lại qua, Thuận theo, chẳng dám phôi pha mệnh trời! Muốn điều thông suốt khúc nhôi, Ở sao vẫn tựa như người vô tri! (Những người đức hạnh huyền vi,) Dưỡng sinh muôn vật chẳng hề tâng công, Sống đời vẫn tựa như không, Cần cù lao tác, chẳng mong đáp đền. Giúp dân, nhưng chẳng tranh quyền, Ấy là đức hạnh nhiệm huyền, siêu vi."
Vô dụng
"Bánh xe ba mươi tai hoa, Cái bầu giữa trống, nó nhờ nó quay. Bát kia lấy đất dựng gầy, Nhờ lòng bát rỗng, mới hay đựng đồ. Làm nhà trổ cửa nhỏ, to, Nhờ cửa mở trống, cái nhà mới quang. Hữu hình để chở, để mang, Vô hình mới thực chính tang «cái dùng»."
Kiểm dục
"Sắc năm màu làm ta choáng mắt, Thanh năm cung ngây ngất lỗ tai. Năm mùi tê lưỡi mềm sai, Ruổi rong săn bắn, lòng người hóa điên. Của hiếm có ngả nghiêng nhân đức, Khinh giác quan, giữ chắc lòng son. Thánh nhân hiểu lẽ mất còn."
Yếm sỉ
"Vinh hay nhục lo âu cũng rứa, Ta lo âu vì có tấm thân. Nhục vinh là mối bận tâm, Lên voi xuống chó cũng ngần ấy lo. Luôn sợ hãi là do thân thể, Không thân này hồ dễ âu lo. Xin đem thiên hạ hiến cho, Ai vì thiên hạ, chẳng tơ tưởng mình."
Tán huyền
"Gọi là Di vì nhìn chẳng nổi, Nghe không ra nên gọi là Hi, Thoát tay nên gọi là Vi, Ba điều ấy, khôn suy cho cùng. Suy không cùng nên chung làm một, Trên chẳng trong, dưới suốt chẳng mờ, Mung lung nên khó gọi thưa, Miên man bất tận nên vô tượng hình. Không dáng dấp, siêu linh ta gọi, Không tượng hình nên mới siêu linh. Phất phơ không bóng không hình, Đầu đuôi chẳng có, cung nghinh đàng nào. Đành phải sống ướm vào «cổ giả». Thấu nguồn xưa là rõ đạo Trời."
Hiển đức
"Ai người xưa khuôn theo đạo cả, Sống huyền vi, rất khó tri tường. Nay ta gạn ép văn chương, Hình dung dáng dấp, liệu đường phác ra. Họ e ấp như qua băng tuyết, Họ ngỡ ngàng như khiếp láng giềng. Hình dung khách khí trang nghiêm, Băng tan, tuyết tán, như in lạnh lùng. Họ đầy đặn như tuồng mộc mạc, Nhưng phiêu khinh man mác hang sâu. Hỗn mang ngỡ nước đục ngầu, Đục ngầu lắng xuống một mầu trong veo. Ngỡ ù cạc một chiều an phận, Nào ai hay sống động khôn lường. Phù hoa gom góp chẳng màng, Ai say đạo cả, coi thường phù hoa. Sống ẩn dật, không ưa thanh thế, Việc thế gian hồ dễ đổi thay."
Qui căn
"Thử tách khỏi vòng đời luân chuyển, Để lặng thinh ngắm chuyện trần hoàn. Muôn loài sinh hóa đa đoan, Rồi ra cũng phải lai hoàn bản nguyên. Hoàn bản nguyên, an nhiên phục mệnh. Phục mệnh rồi trường vĩnh vô cùng. Biết trường tồn mới là thông, Trường tôn không biết, ra lòng tác yêu. Biết trường tồn muôn điều thư thái, Lòng ung dung hưởng khoái công hầu. Công hầu, vương tước, xa đâu, Vượt thang thần thánh, lên bầu trời cao. Lên trời thẳm hòa vào Đạo cả, Cùng đất trời, muôn thủa trường sinh. Xác tan, chẳng hại chi mình."
Thuần phong
"Thánh xưa trị nước, trị dân, Bàn dân ở dưới coi gần như không. Rồi ra thân cận tán đồng, Rồi ra sợ hãi, rồi đâm khinh nhờn. Bởi không thủ tín đàng hoàng, Cho nên dân mới ngỡ ngàng chẳng tin. Thánh xưa lời nói giữ gìn, Khi xong công việc, dân xem tự mình."
Tục bạc
"Đạo cả hết, đạo huyền đồng hết, Mới lan tràn học thuyết nghĩa nhân. Trí sinh, trá ngụy sinh dần, (Dân gian còn biết thiên chân là gì !) Tình gia tộc một khi suy giảm, Hiếu từ sinh trong đám cháu con. Quốc gia gặp lúc ám hôn, Trung thần xuất hiện, giang sơn ly loàn."
Hoàn thuần
"Dứt bỏ thánh, khinh thường tiểu trí, Trong dân gian, lợi sẽ gấp trăm. Tung hê, nhân, nghĩa, chẳng cần, Tự nhiên dân sẽ mười phân hiếu từ, Dứt khéo léo cùng là tài lợi, Dân theo gương bỏ thói gian tham. Ra chi phù phiếm vẻ văn, Cốt sao nắm giữ được phần tinh hoa. Hiển dương Đạo, sống cho phác thiệt, Ít đam mê và ít riêng tây."
Dị tục
"Rũ tục học, sẽ quên lo lắng, Dạ với ơi khác đặng bao lăm. Dữ lành khác độ mấy tầm, Cái điều người sợ, bình tâm được nào. Nhưng chẳng nỗi ra vào hốt hoảng, Lo thì lo nhưng chẳng bàng hoàng. Người vui như hưởng cỗ bàn, Vui như trẩy hội đăng đàn tiết xuân. Riêng ta nín lặng tần ngần, Như tuồng trẻ nít chưa phân biệt gì. Ta ngơ ngẩn biết đi đâu tá, Người giàu sang, ta há bị quên! Lòng ta ngu độn thấp hèn, Người đời sáng suốt, sao riêng ta đần. Người xét nét, biện phân mọi lẽ, Chỉ riêng ta quạnh quẽ, trong suông. Mênh mang trên mặt trùng dương, Mặc cho gió cuốn, sóng vương không ngừng. Ai cũng có chỗ dùng lợi ích, Chỉ riêng ta thô kệch ương gàn. Nay ta sống khác nhân gian, Vì ưa sữa «mẹ muôn ngàn thụ sinh»."
Hư tâm
"Người chí thánh hòa mình với Đạo, Dáng dấp người ẩn áo vẻ Trời. Trời sinh ra khắp muôn loài, Phất phơ phất phưởng ảnh Trời ở trong. Tưởng muôn loài tối tăm u ẩn, Tinh quang Trời vẫn lẩn bên trong. Tinh quang ấy thực thiên chân. Khơi nguồn tín dưỡng xa gần xưa nay. Xưa và nay, tên ngài vẫn đó, Tên ngài còn mới có chúng sinh, Ta hay dáng dấp quần sinh, Là nhờ phương pháp thuyết trình trên đây."
Ích khiêm
"Bao dang dở, làm cho tươm tất, Bao cong queo, hãy bắt cho ngay. Hãy san chỗ trũng cho đầy, Cũ càng đổi mới, mới ngay tức thì. Đạm thanh sẽ thoả thuê, đầy đủ, Phiền toái nhiều, trí lự ám hôn. Thánh nhân một dạ sắt son, Hoà mình với Đạo, treo gương cho đời. Ít phô trương, (nhưng) rạng ngời, sáng quắc, Chẳng khoe khoang, (nhưng) vằng vặc trăng sao. Chẳng vênh váo, vẫn cao công nghiệp, Chẳng huênh hoang, ngồi tít tầng cao. Không tranh ai nỡ tranh nào, Lời người xưa nói nhẽ nào sai ngoa: «Bao dang dở, làm cho tươm tất, Tươm tất rồi ắt sẽ về Ngài.»"
Hư vô
"Sống tự nhiên, xẻn lời ít nói, Vì gió giông chẳng thổi sớm, trưa. Mưa rào chẳng suốt ngày mưa, Ai làm gió sớm mưa trưa thế này? (Trời đất). Trời đất còn thoảng bay chốc lát, Vẻ chi người, sống thác dường bao ! Đem vạn vật ướm vào Đạo cả, Đấng thánh nhân huyền hóa đạo Trời. Người nhân ôm đức chẳng rời, Người ham đắc thất, cả đời vẫn ham. Ôm lấy Trời, hân hoan Trời rước. Ôm đức ân, sẽ được đức ân. Miệt mài công cuộc gian trần, Gian trần vui đón, cho thuần hư vinh. Kẻ chẳng tin, người tin chẳng đủ, Không đủ tin hay cứ không tin. Đoạn 3 và 4 trên đây có thể dịch theo cách thứ hai như sau: Đem vạn vật ướm vào Đạo cả, Đấng thánh nhân huyền hóa Đạo Trời. Sá chi đắc thất trần ai, Vui vầy cùng Đạo thảnh thơi mặc tình. Sống huyền hóa, siêu linh thoải mái. Người tin, chăng, nào ngại gì đâu."
Khổ ân
"Kiễng chân lên làm sao đứng thẳng, Xoạc cẳng ra, đi chẳng được nào. Thích khoe sáng suốt làm sao? Tự cho mình phải, đời nào hiển dương. Cầu cạnh quá, thời thường thất bại, Quá ỷ mình, danh lại không cao. Mắt thần ta mượn nhìn vào, Cơm thừa, việc thải xiết bao tục tằn. Đó đâu phải đạo thánh nhân."
Tuợng nguyên
"Có một đấng an nhiên tự hữu, Trước đất trời, vĩnh cửu tự thành. Tịch liêu, vắng ngắt, vắng tanh, Một mình mình biết, một mình mình hay. Muôn vàn chẳng chút đổi thay, Đó đây quanh quất, đó đây chẳng chồn, Sinh muôn vật, mẹ muôn thiên hạ. Tính danh người ta há biết sao, Tên Ngài phải gọi thế nào, Gọi liều là Đạo, xưng ào là To. Vì quá to, nên xa thăm thẳm, Thăm thẳm xa mà vẫn gần kề. Đạo to, to lớn muôn bề, Trời to, đất lớn, Người (khoe) lớn (quyền). Bốn trọng đại trong miền Vũ trụ, Người nghiễm nhiên được ghé một vai. Người theo khuôn phép đất đai, Khuôn trời đất lấy, Đạo cai quản Trời. Tự nhiên, Đạo cứ thảnh thơi."
Trọng đức
"(Người) trang trọng hơn (người) nhẹ (dạ) (Người) thung dung chúa (gã) long đong. Đường đường là đấng thánh nhân, Suốt ngày rong ruổi, vẫn không buông tuồng. Tuy rằng ở chỗ cao sang, Tâm hồn thư thái, chẳng màng phồn hoa. Làm vua thống trị sơn hà, Cớ sao dở thói kiêu sa lộng quyền. Buông tuồng là mất căn nguyên. Lo toan trăm nỗi là quên mất Trời."
Xảo dụng
"Giỏi di chuyển, không lưu dấu tích, Khéo nói năng tránh hết lỗi lầm. Đếm tài, chẳng thẻ, chẳng thăm, Bít bưng khéo léo, khỏi cần khóa then. Thắt buộc giỏi chẳng phiền dây rợ, Không rợ dây nhưng khó gỡ ra. Thánh nhân cứu thế tài hoa, Cứu người chẳng bỏ sót qua một người. Thánh nhân lại có tài dụng vật, Muôn sự đời chẳng vất bỏ chi. Quang huy lồng bóng quang huy, Người hay đưa kẻ dở về đường ngay. Người bất thiện xưa nay đâu uổng, Họ đỡ đần nuôi dưỡng người lành. Nếu không quí trọng thầy mình, Không thương người giúp, khôn thành u mê. Chuyện đời ẩn áo ly kỳ."
Phản phác
"Cầm thư (kiễm) biết (thanh) hùng (kiếm) Sống lem nhem, theo tiếng thế gian. Lem nhem trước mắt trần hoàn, Nhưng mà đức cả tiềm tàng chắt chiu. Quá chắt chiu ra chiều trẻ nhỏ. Cầm tối đen, biết có sáng trong, Treo gương đã quyết một lòng, Treo gương thiên hạ, «đức Hằng» tất giao. Nghĩa tất giao gá vào Vô cực. Biết Ngài vinh ta nhục có sao. Khiêm cung như thể hang sâu, Hang sâu thăm thẳm, đức mầu chứa chan. Bỏ phức tạp, chỉ ham phác thực, Giữ chu toàn thực chất thiên lương. Thiên chân phân tán, vãi vương, Sẽ thành đồ đạc để nương, để dùng. Thánh nhân nếu lâm vòng hữu dụng, Bất quá là trưởng thượng bách quan. Mới hay phép lớn mênh mang, Không chia, không cắt, vẹn toàn mới hay."
Vô vi
"Những muốn nặn, muốn nhào thiên hạ, Suy cho cùng, chẳng khá được nào. Lòng người nghệ phẩm (thần khí) tối cao, Ai cho ta nặn, ta nhào tự do. Ngao ngán kẻ mưu đồ như vậy, Chẳng chóng chày, hủy hoại lòng người. Lòng người ai nắm giữ hoài, Già tay nắn bóp, bao đời tiêu ma. Người trần thế (muôn hoa đua nở) Có nhanh chân, cũng có chậm chân. Người nóng nảy, kẻ lần chần, Người in gang thép, kẻ thuần đào tơ. Người kiên gan, kẻ như cánh bướm. Nên thánh hiền sùng thượng chữ khoan. Chỉ ngăn quá lạm cực đoan, Quá giàu, quá chướng, quá ham tiền tài."
Kiệm vu
"Ai coi Trời là vua muôn nước, Chẳng hưng binh, tính cuộc chiến tranh. Chiến tranh phản phúc tung hoành, Bao nơi quân lữ đã thành góc gai. Sau vó ngựa những người chiến sĩ, Là những năm rầu rĩ lầm than. Tướng tài dẹp loạn mau tan, Nhưng mà chẳng dám khoe khoang sức mình. Tuy đánh mạnh, chẳng vinh vì thế, Chẳng kiêu căng, chẳng kể công lao. Ép tình nên chẳng hùng hào, Chứ đâu có muốn đề cao sức mình. Khi sức lực phong doanh thịnh tráng, Thời già nua, suy giảm theo sau. Cậy tài cậy mạnh hay đâu, Đi sai Đạo lý, trước sau chẳng bề."
Yến vũ
"Binh đao là chuyện bất tường, Muôn loài khiếp sợ chán chường binh đao. Người đạo hạnh chẳng vào chốn đó, Chốn binh đao chẳng có mặt người. Người quân tử ưa nơi tả dực, Khách kiếm cung, thích chức hữu biên. Đao binh họa hại vô biên, Nên người quân tử chẳng phiền đao binh. Bất đắc dĩ hạ mình dùng nó, Nhưng dằn lòng hãy cố tránh voi, Thắng về đừng lấy làm vui, Ai vui khi thắng là người sát nhân. Lấy đổ máu nhân dân làm khoái, Thâu tóm sao muôn giải giang sơn. Nếu đem nghi lễ mà bàn, Hai bên phải trái dữ, lành chia hai. Bên tả dực là ngài phó tướng, Còn hữu biên là thượng tướng quân. Đó là thứ tự qua phân, Dùng trong tang lễ (xa gần xưa nay). Người nào đã dúng tay giết lát, Đã ra tay tàn sát chúng nhân, Thời nên bi lụy thương tâm, Một khi chiến thắng, khóc dân vong tàn."
Thánh đức
"Đạo vốn dĩ không tên, không tuổi, Lại tế vi xiết nỗi đơn thuần. Thế mà trong khắp nhân quần, Đố ai bắt được Đạo thuần phục oai. Vương hầu nào thờ Ngài một dạ, Thì dân con cảm hóa liền tay. Đất trời đúng tiết vần xoay, Cam lồ tưới xuống (cỏ cây phỉ tình), Dân gian sống an bình đầy đủ, Chẳng đợi truyền tự sẻ áo cơm. Kìa tạo vật nhiều tên, lắm tuổi, Lắm tuổi tên, một cội, một nguồn. Mang danh vào chốn trần hoàn, Biết nơi dừng bước mới ngoan mới lành. (Nơi Đạo cả siêu linh), dừng bước, Sẽ thoát vành (ô trược), gian nan. Đạo kia đối với thế gian, Như khe, như suối đối hàng biển sông."
Biện đức
"Biết người là kẻ trí cao, Biết mình ấy kẻ anh hào quang minh. Thắng người khác đã đành rằng khỏe, Tự thắng mình xiết kể hùng cường. Biết túc mãn ấy giàu sang, Cố công gắng sức, bền gan ấy người. Muốn trường cửu chớ rời chỗ tựa, Chết vẫn còn là thọ muôn đời."
Nhiệm thành
"Đạo cao cả lan tràn tả hữu, Cho muôn loài bám víu sống còn. Dưỡng sinh vạn vật trần gian, Lặng thinh chẳng có khoe khoang nửa lời. Chẳng tranh chấp công, công chú, Muôn công trình vẫn cứ nín thinh. Dưỡng nuôi ưu ái quần sinh, Chẳng phân chủ tớ, chẳng dành quyền uy. Không ham muốn, có bề yếu thế, Nhưng thật tình quá lẽ lớn lao. Quần sinh muôn kiếp gồm thâu, Mà không có giọng vương hầu, chúa tôi. Đấng thánh nhân suốt đời khiêm tốn, Chẳng bao giờ khoe lớn, khoe công. Vì không cậy thế cậy thần, Cho nên lập được đại công với đời."
Nhân đức
"Đấng thánh nhân là gương trong trẻo, Soi Đạo trời cho mọi người theo, Ai theo nào hại đâu nào, Lại còn an lạc, ra vào thái khang. Bao nhã nhạc cỗ bàn yến ẩm, Khách đi rồi vắng lặng như không. Đạo Trời ra khỏi tấc lòng, Nói ra ngoài miệng, nhạt không, nhạt phèo. Để mắt nhìn, như chiều chẳng xứng, Lắng tai nghe ngỡ chẳng đáng nghe, Nhưng đem dùng thật thỏa thuê. Muôn nghìn ứng dụng chẳng hề có vơi."
Vi minh
"Muốn cho chùng, trước dương cho thẳng, Muốn cho suy, trước tẩm mạnh thêm. Trước khi thải loại hư hèn, Tất cho hưng vượng, một phen huy hoàng. Trước khi đòi lại của ban, Thời thường sao cũng tiên vàn gia ân. Luật trời khắc cốt minh tâm, Xưa nay nhu lại có phần thắng cương. Vực sâu cá phải náu nương, Những đồ quốc bảo, phô trương ích gì."
Vi chính
"Trời im lìm vô vi bất biến, Vẫn làm nên muôn chuyện muôn công. Vương hầu lấy đó làm lòng, Muôn loài ắt sẽ hanh thông thái bình. Nếu có kẻ sinh tình dở dói, Ta can cho bỏ thói lao đao, Kìa gương cao cả tầng cao, Vô danh thuần phác, lẽ nào chẳng theo. Sống phác giản, chẳng đeo danh lợi, Lòng thênh thang sạch mọi tham lam. Không tham, lòng sẽ bình an, Tự nhiên thiên hạ thái khang, trị bình."
Luận đức
"Người đức cả coi thường tục đức, Thế cho nên thơm phức hương nhân. Phàm phu nệ đức phàm trần, Cho nên xơ xác thêm phần xác xơ. Người đức cả vô vi khinh khoát, Người phàm phu lao tác tây đông. Người nhân dạ ít đèo bòng, Con người nghĩa khí kể công kể giờ. Con người nghi lễ so đo, Làm chưa thấy ứng, nhỏ to bất bình. Hễ Đạo mất nặng tình với Đức, Đức không còn lục tục theo Nhân. Hết Nhân có Nghĩa theo chân, Nghĩa không còn nữa thấy thuần Lễ nghi. Nên nghi lễ là chi khinh bạc, Cũng là mầm loạn lạc chia ly. Bề ngoài rực rỡ uy nghi, Bề trong tăm tối, ngu si ngỡ ngàng. Nên quân tử chỉ ham đầy đặn, Chứ không ưa hào nháng phong phanh. Chỉ cần thực chất cho tinh, Không cần bóng bẩy lung linh bên ngoài. Bắc cân khinh trọng cho tài, Biết đường ôm ấp, biết bài dễ duôi."
Pháp bản
"Được Hóa công xưa nay thế cả, Trời có Ngài nên hóa trong xanh. Nhờ Ngài nên đất an ninh, Chư thần nhờ thế uy linh nhiệm mầu. Có Hóa công, hang sâu hóa đặc, Nhờ có Ngài muôn vật tốt tươi, Vương hầu cũng dựa đức người, Trị vì thiên hạ thảnh thơi an bình. Trăm điều cũng một mối manh, Muôn loài cũng một khuôn xanh lo lường. Trời mất Ngài, tan hoang xơ xác, Đất không Ngài, bạt lạc nát tan, Không Ngài, thần cũng lầm than, Không Ngài, hang thẳm lại hoàn hư vô. Vật mất Ngài sa cơ hủy diệt, Nước không Ngài, vua hết quyền uy. Xưa nay quý tiện tương tùy, Cao không có thấp lấy chi làm nền. Nên vua chúa tự khiêm tự hạ, Tự nhún mình: «Cô quả», «đớn hèn», Phải chăng, hèn kém là nền, Phải chăng tự hạ, mới bền quyền uy. Cũng lẽ ấy đem suy nhân sự, Coi mọi người một lứa như nhau. Ta không phân biệt thấp cao, Người nào là ngọc, người nào là than."
Khử dụng
"Đạo thường chuyển ngược dòng đời, Đạo thường khoác lấy vẻ ngoài tơ non. Muôn loài từ Có bắt nguồn, Nhưng mà «Có» lại do khuôn «Vô hình»."
Đồng dị
"Người thượng đẳng khi nghe biết Đạo, Liền ân cần tiết tháo, khuôn theo. Người thường biết đạo ít nhiều, Nửa quên, nửa nhớ, ra chiều lửng lơ. Người hèn kém hễ cho nghe Đạo, Liền cười vang, chế nhạo rỡn chơi. Đạo Trời ẩn áo, đầy vơi, Không cười đâu thấy Đạo Trời huyền vi. Lời xưa đã từng khi truyền tụng, Biết Đạo thời như vụng như đần. Tiến lên mà ngỡ lui chân, Tới bên Đạo cả mà thân tưởng hèn. Đức siêu việt thấp in thung lũng, Đức cao dày tưởng những vô tài, Thực chất tốt vẻ ngoài ngỡ kém, Hình vuông to góc biến còn đâu, Những đồ quí báu làm lâu, Tiếng to dường sấm mà hầu vô thanh. Tướng to mới vô hình vô ảnh, Trời mênh mông yên tĩnh như không. Đạo Trời tản mạn vô cùng, Không làm mà vẫn thành công mới là."
Đạo hoá
"Đạo sinh ra chân nguyên Nhất thể, Nhất thể sinh nhị khí Âm Dương. Âm Dương biến hóa khôn lường, Sinh, Thần, khí, chất rõ ràng bộ ba. Bộ ba ấy sinh ra vạn vật, Vạn vật luôn ôm ấp Âm Dương. Lung linh cầm giữ mối giường, Nhưng mà xung khí vẫn thường ẩn trong. Người đời ghét cô đơn, hèn hạ, Nhưng vương hầu cô quả vẫn xưng. Cho nên muốn tổn thời tăng, Muốn tăng thời tổn lẽ hằng xưa nay. Người xưa dạy câu này chí lý. Ta cũng đem ta chỉ cho người: «Xin đừng bạo động ai ơi, Ai mà bạo động, chết thôi bạo tàn.» Đó lời giáo phụ ta ban."
Biến dụng
"Cái mềm nhất ở trong trời đất, Thắng cái gì cứng nhất trần hoàn. Vô hình nhập chỗ vô gian, Vô vi ích lợi muôn vàn ai hay. Không nói vẫn làm thầy thiên hạ, Không làm nhưng kết quả ngàn muôn. Nào ngờ không nói, không làm, Chứa chan ích lợi, người phàm đâu hay."
Tri chỉ
"Tiếng với ta cái gì là quí? Của với mình xét kỹ chi hơn? Bắc cân hai lẽ mất còn, Đằng nào khổ sở, tính toan cho rành. Chắt chiu quá lại thành uổng phí, Cóp nhặt nhiều ắt sẽ tay không, Thảnh thơi, là có đủ dùng, Ít ham, ít nhục, thung dung một đời. Lòng khinh khoát, biết nơi dừng bước, Thoát hiểm nguy lại được trường sinh."
Hồng đức
"Thực mỹ mãn mà như khuyết điểm, Nhưng đem dùng chẳng chuyển, chẳng mòn. Thật đầy mà ngỡ trống trơn, Đem dùng mới thấy chứa chan vô cùng. Thẳng băng mà ngó như cong, Muôn nghìn khéo léo, dáng trông vụng về. Thật hùng biện như e, như ấp, Vẻ ngây ngô, sắc mắc ai đương. Múa may cho bớt lạnh lùng, Nghỉ ngơi cho nóng đỡ nung hình hài. Một niềm thanh tĩnh thảnh thơi, Tự nhiên thiên hạ đổi đời hóa hay."
Kiệm dục
"Trần gian mà có Hóa Công, Ngựa hay cũng thải về đồng vun phân. Trần gian mà mất Thiên quân, Bên thành chiến mã hí rầm ngày đêm. Nguy thay những kẻ bon chen, (Suốt đời chẳng lửng dạ thèm khát khao). Hại thay những kẻ vơ vào, (Vơ vơ, vét vét biết bao giờ cùng). Ở đời muốn được thung dung, Nhiều no, ít đủ, ta không phàn nàn."
Giám viễn
"Ở nhà chẳng bước đi đâu, Thế mà thiên hạ gót đầu vẫn hay. Tuy rằng cửa đóng then cài, Thế mà vẫn hiểu Đạo trời tinh vi. Con đường phiêu lãng càng đi, Càng xa càng lạc biết gì nữa đâu. Cho nên hiền thánh trước sau, Không đi mà biết, không cầu mà nên. Cần chi vất vả bon chen, Không làm mà vẫn ấm êm vuông tròn."
Vong tri
"Học nhiều càng lắm rườm rà, Càng gần Đạo cả càng ra đơn thuần. Giản phân rồi lại giản phân, Tần phiền rũ sạch còn thuần vô vi. Vô vi huyền diệu khôn bì, Không làm mà chẳng việc chi không làm. Vô vi mà được thế gian, Càng xoay xở lắm đời càng rối beng."
Nhiệm đức
"Thánh nhân lòng chẳng khư khư, Lấy lòng thiên hạ làm như lòng mình. Dẫu người lành dữ mặc tình, Với ai ta cũng chân thành trước sau. Đó là đức hạnh nhiệm mầu, Đó là thánh thiện trước sau muôn ngàn. Người ngay thẳng kẻ gian ngoan, Với ai ta cũng chu toàn tấm son, Ấy là thành tín vuông tròn. Thánh nhân sống ở trần hoàn, Tâm hồn man mác khó toan khó lường. Muôn người mắt trố, tai trương, Thánh nhân xem tựa một phường trẻ thơ."
Quí sinh
"Ra cõi sinh là vào cõi tử, (Tử với sinh một cửa chia đôi.) Nẻo đường sống chết đôi nơi, Bên nào đường lối cũng thời mười ba. Kiếp phù sinh phôi pha tàn úa, Truy kỳ nguyên cũng có mười ba. Kiếp người tàn úa phôi pha, Chung qui là tại quá ưa hưởng đời. Ai mà biết tài bồi nguồn sống, Đi đường trường chẳng đụng hùm heo. Vào nơi trận mạc cheo leo, Cheo leo nhưng vẫn muôn chiều bình yên. Tê chẳng chỗ để xiên sừng nhọn, Hổ không nơi cho móng xé cào. Quân binh chẳng chỗ hạ đao, Vì không còn có chỗ nào tử vong."
Dưỡng đức
"Đạo sinh mà Đức dưỡng nuôi, Khoác hình vật chất mà đời nên công. Muôn loài nhớ tổ, nhớ tông. Nên tôn Đạo cả, mà sùng Đức cao. Đạo cao, Đức cả từ bao, Tự nhiên vốn dĩ đời nào nhờ ai. Đạo sinh mà Đức tài bồi, Chăm nom dưỡng dục chẳng ngơi tác thành. Sinh nhưng chẳng giữ cho mình, Tác thành nào kể công trình trước sau. Tuy hơn mà chẳng đè đầu, Đó là Đức cả nhiệm mầu huyền vi."
Qui nguyên
"Trần gian có gốc có nguồn, Gốc nguồn ấy chính mẹ muôn vạn loài. Một khi đã biết mẹ rồi, Suy ra con cháu khúc nhôi khó gì. Biết con, phải biết nghịch suy, Suy con ra mẹ, ta đi ngược dòng. Thế là chẳng sống uổng công, Chết đi mà vẫn sống cùng nước non. Âm thầm ấp ủ tấc son, Một đời trần cấu chẳng mòn mỏi ai. Mặc ai đày đọa hình hài, Một đời tất tưởi, phí hoài tâm thân. Quang minh là thấu vi phân, Cương cường là biết giữ phần mềm non. Hãy dùng ánh sáng ngàn muôn, Đem về soi tỏ gốc nguồn chói chang. Thế là thoát mọi tai ương. Thế là biết sống cửu trường vô biên."
Ích chứng
"Nếu ta có chút khôn ngoan, Đường trời hôm sớm, lòng vàng chẳng thay. Im lìm chẳng dám khoe hay, Phô trương thanh thế nguy này ai đang ? Lạ thay đại đạo mênh mang, Mà sao nhân thế bước quàng bước xiên ? Triều đình càng rực ánh tiên, Ruộng màu càng xác, kho tiền càng xơ. Áo quần óng ả nhung tơ, Thanh gươm sắc bén nhởn nhơ bên người. Ăn chê uống chán chưa thôi, Tiền tài dư dật của đời, của ta. Ấy đường «đạo tặc» điêu ngoa, Phải đâu «đại đạo» không tà, không xiên."
Tu quan
"Khéo xây, nậy cũng chẳng lên, Khéo ôm, giằng giật vẫn nguyên chẳng rời. Con con cháu cháu bao đời, Thay nhau tế tự, chẳng ngơi sự tình. Đạo Trời tu dưỡng nơi mình, Đức Trời sẽ chứng, tinh thành chẳng sai. Gia đình tu Đạo hôm mai, Đức Trời âu sẽ láng lai tràn trề, Đạo Trời giãi sáng làng quê, Đức Trời âu cũng thêm bề quang hoa. Đạo Trời rạng chiếu quốc gia, Đức Trời lai láng tuôn ra vô ngần. Đạo Trời soi khắp gian trần, Đức Trời âu sẽ muôn phần mênh mang. Cho nên muốn biết tuổi vàng, Xem người, ta lấy mình làm la kinh. Xem nhà, ta xét gia đình, Xem làng, ta lấy quê mình xét xem. Nước ta, ta sánh nước bên, Ta đem thiên hạ, đọ xem chuyện đời. Nhờ so, nhờ sánh không thôi, Truyện đời ta biết, việc đời ta hay."
Huyền phù
"Chân nhân sống tựa anh hài, Nọc trùng tuy độc chẳng tài nào châm. Hùm beo kiêng chẳng dám ăn, Đại bàng cũng chẳng dám săn làm mồi. Gân mềm xương yếu đành rồi, Mà sao nắm chặt khó rời khó buông. Bướm hoa chưa tỏ lối đường, Tinh ròng chưa chút vấn vương bấy chầy. Tuy rằng gào khóc suốt ngày, Nhưng mà cung giọng chẳng thay chẳng khàn. Trung hòa đáo để nhân gian, Trung hòa thông tỏ lối đường trường sinh. Biết trường sinh mới thông minh, Miệt mài cuộc sống hại mình xiết bao. Tâm làm cho khí tổn hao, Đời cho là mạnh (nhưng nào có hay). Càng hăng, càng chóng hao gầy, Cái già xồng xộc tới ngay bên mình. Thế là nghịch Đạo cao minh, Sống sai Đạo cả phù sinh trôi vèo."
Huyền đức
"Biết thời sẻn tiếng, sẻn lời, Những người không biết thường thời huênh hoang. Âm thầm đóng khóa ngũ quan, Mà che sắc sảo, mà san tần phiền. Hòa mình trong đám dân đen, Cho mờ ánh sáng, cho nhem phong trần. Ấy là đạo cả huyền đồng. Ai mà vẹn đạo huyền đồng, Tâm hồn son sắt khó lòng chuyển lay. Thân sơ cũng chẳng đổi thay, Hay hèn, lợi hại mảy may chẳng màng. Cho nên quí nhất trần gian."
Thuần phong
"Đem ngay chính trị dân trị nước, Đem mưu mô phương lược dùng binh. Dùng vô sự giữ dân mình, Làm sao ta biết sự tình trước sau ? Đây ta xin tỏ gót đầu, Càng điều cấm kỵ, càng sầu dân con. Dân càng xảo trá đa đoan, Nước càng tăm tối bàng hoàng hôm mai. Càng sinh ra lắm người tài, Của khan vật lạ vãng lai càng nhiều, Vẽ vời luật pháp bao nhiêu, Càng điều trộm cướp, càng điều nhiễu nhương. Nên hiền thánh xưa thường hay nói: Ta «vô vi» vẫn đổi dân tình. Êm đềm dân vẫn sửa mình, Ta đây vô sự, dân sinh vẫn giàu. Ít mơ ước chẳng cầu chẳng cạnh, Mà dân con tâm tính hóa hay."
Thuận hoá
"Nếu mà chính lệnh khoan hòa, Dân gian thư thái âu ca thanh bình. Nếu mà chính lệnh nghiêm minh, Dân gian những sống giật mình lo thân. Ở đời họa phúc xoay vần, Cùng đoan, cực điểm dễ lần ra sao ? Người trên phóng túng tầm phào, Dân gian theo thói lẽ nào chẳng hư. Người hay cũng mất lòng từ, Người lành rồi cũng ra như gian tà. Người lầm tự thủa xưa xa, Người mê, mê tự bao giờ ai hay ! Cho nên hiền thánh xưa nay, Tuy mình vuông vắn, chẳng xoay xở người. Tuy mình liêm khiết hơn đời, Mà nào có nỡ làm ai mếch lòng. Tuy mình ngay thẳng trắng trong, Mà nào cay nghiệt nghênh ngông với người. Tuy mình rự rỡ sáng ngời, Mà nào có nỡ làm ai chói lòa."
Thủ đạo
"Trị người mà cũng thờ Trời, Chi bằng tiết độ, chớ lơi tinh thần. Biết điều tiết độ là cần, Rồi ra đức hạnh sẽ dần cao thêm. Đức cao vạn sự sẽ nên, Đã nên vạn thắng, vô biên ai tày. Thênh thang muôn dặm trời mây, Nước trời đã nắm trong tay rành rành. Giàu sang có cả Khuôn xanh, Cửu trường muôn kiếp đã đành là ta. Thế là ăn rễ sâu xa, Thế là cửu thị, thế là trường sinh."
Cư vị
"Cầm đầu một đại giang sơn, Nương tay như nấu cá con mới là. Đạo Trời nhuần đượm gần xa, Quỉ thần thôi cũng buông tha chẳng phiền. Quỉ thần đâu phải không thiêng, Quỉ thần không hại vì kiêng nể người. Quỉ thần đã chẳng tác oai, Thánh nhân nào nỡ hại đời làm chi. Thần nhân đều chẳng thị uy, Muôn nghìn ân đức sẽ qui tụ về."
Khiêm đức
"Nếu nước lớn hạ mình từ thượng, Khắp mọi nơi sẽ hướng chiều về, Đó đây qui tụ thỏa thuê, Y như một mái làm mê cả bầy. Con mái kia thơ ngây thuần thục, Tưởng kém hèn mà đực vẫn thua. Nước to chẳng cậy mình to, Sẽ làm nước nhỏ phải ưa thích mình. Nên nước nhỏ chẳng kênh chẳng kiệu, Nước to kia sẽ liệu chở che. Dù chinh, dù phục hai bề, Biết đường khiêm tốn đề huề mới ngoan. Nước lớn thích lo toan chỉ vẽ, Nước nhỏ mong dựa thế nương uy, Hai bên đều được thỏa thuê, Đã là kẻ cả chớ chê hạ mình."
Vi đạo (Quí đạo)
"Đạo là bí quyết muôn loài, Là châu là báu của người hiền lương. Đạo còn là chốn dựa nương, Cho người bạc đức có đường dung thân. Lời hay việc đẹp gian trần Đều do nguồn đạo tinh thuần phát ra. Mấy đời những kẻ gian tà, Mong nhờ lượng cả, khỏi ra thân tàn. Cho nên đã tiếng vua quan, Phải đâu giỡn ngọc, đùa vàng trêu ngươi. Phải đâu tứ mã rong chơi, Vua quan cốt để «tiến trời» vào thân. Người xưa chuộng Đạo muôn phần, Vì khi đắc đạo, lụy trần tiêu tan. Đạo là vật báu thế gian."
Tu thủy
"Thảnh thơi ta sống thảnh thơi, Đời ta chẳng chút lôi thôi tần phiền. Đời ta thơm phức hương tiên, Bao nài lớn nhỏ, sá xem ít nhiều. Cởi giây thù oán chẳng đeo, Ta đem đức độ đổi điều gian ngoan. Khó gì ta cũng cứ làm, Bắt đầu từ dễ ta sang khó dần. To gì ta cũng chẳng cần, Bắt đầu từ nhỏ ta lần sang to. Đời người vạn sự gay go, Đều từ dễ dãi lần mò mãi ra. Những điều cao đại xưa giờ, Đều từ nhỏ nhặt đem vo cho thành. Cho nên những bậc tinh anh, Chẳng cần lớn lối vẫn dành cao sang. Những ai hứa hẹn muôn ngàn, Tình suông rồi sẽ bẽ bàng đơn sai. Những ai khinh thị cuộc đời, Càng ngờ dễ dãi, càng vời khó khăn. Cho nên những bậc thánh nhân, Biết e cái khó, khó khăn chừa người."
Thủ vi
"Vật yên nên mới dễ dàng cầm, Vật chưa mầm mộng, rộng tầm tính toan. Càng mềm, càng dễ cho tan, Nhỏ nhoi măng sữa dễ làm tiêu ma. Làm khi chưa mới có là, Trị khi chưa loạn mới ra vuông tròn. Cây to cả sải tay ôm, Thoạt tiên là một mầm non sá nào. Đài cao cao chín tầng cao, Cũng từ mặt đất xây cao dần dần. Con đường nghìn dặm xa xăm, Bắt đầu cũng ở dưới chân bộ hành. Càng làm càng lắm tan tành, Càng ôm càng mất, càng dành càng vương. Mới hay đường lối thánh nhơn, Chẳng làm nên chẳng lo lường bại vong. Thênh thang dạ chẳng đèo bòng, Khỏi điều mất mát, đỡ công tần phiền. Thói thường lúc sắp làm nên, Là khi lỡ vở đảo điên tan tành. Một lòng sau trước đinh ninh, Mới không thất bại, mới thành cơ ngơi. Cho nên hiền thánh trên đời, Chỉ say đạo cả, chơi vơi ngàn trùng. Của khan vật hiếm chẳng mong, Của đời người thế đèo bòng làm chi. Học là học đạo siêu vi, Dạy đời lầm lạc hướng đi tuyệt vời. Giúp ai thanh thả đường đời, Chứ không chọc nước quấy trời uổng công."
Thuần đức
"Nên những đấng am tường đạo cả, Chẳng đem điều xảo trá dạy dân. Muốn dân chất phác ôn thuần, Vì càng xảo trá gian truân càng nhiều. Trị dân chúng bằng mưu bằng chước, Ấy là phường cướp nước hại dân. Trị dân: mưu chước không cần, Mới là minh đế, anh quân giúp đời. Lẽ trị nước ngược xuôi là thế, Biết ngược xuôi biết lẽ huyền vi. Mới hay đạo cả diệu kỳ, Ngàn tầm sâu thẳm muôn bề xa xôi. Đem so đọ với đời: tưởng ngược, Nào ngờ đâu sau trước vẫn xuôi."
Hậu kỷ
"Sông biển kia cớ sao mà trọng, Nước muôn khe thao túng vì đâu. Biển sông vì thấp vì sâu, Cho nên mới được đứng đầu muôn khe. Muốn cao cả, ngôi che nhân thế, Phải hạ mình nhỏ nhẹ khiêm cung. Cầm đầu phải ẩn sau lưng, Mình sau người trước chứ đừng kiêu căng. Cho nên những nhân quân thánh đế, Ở trên dân dân nhẹ như không. Trước dân dân vẫn nức lòng, (Kẻ tung người hứng như rồng gặp mây.) Dạ vốn chẳng toan bày tranh chấp, Thế cho nên chẳng gặp đấu tranh."
Tam bảo
"Đời thường nói ta đây trọng đại, Mặc dầu ta phong thái tầm thường. Tuy ta cao quí đường đường, Nhưng ta dung dị in dường chúng dân. Càng uốn éo mười phân kiểu điệu, Càng đơn sai càng thiếu thiện căn. Đây ba bảo vật ta cầm, Ta ôm, ta ấp bất phân tháng ngày. Một là từ ái với người, Hai là cần kiệm của trời chẳng khinh. Ba là chẳng dám ỷ mình, Không kênh, không kiệu, không tranh hơn người. Có từ ái tức thời mới mạnh, Có chắt chiu mới thịnh mới xương. Ở đời có biết nhún nhường, Mới mong địa vị hiển dương có ngày. Nay thiên hạ chỉ say dũng mãnh, Quên nhân từ, ưa mạnh hơn người, Những ưa phóng dật thảnh thơi, Xa bề cần kiệm sống đời xa hoa. Không nhường nhịn chỉ ưa tranh đấu. Thích hơn người là dấu bại vong, Nhân từ là mẹ thành công, Hai đường tiến thủ tinh ròng cả hai. Trời kia muốn vì ai bảo trợ, Đem nhân từ đến chở che cho."
Phối thiên
"Khéo cai trị không cần uy vũ, Chiến trận tài không cứ căm hờn. Thắng người đâu tại tranh hơn, Dùng người khéo chỗ biết tôn trọng người. Thế là chẳng ganh tài vẫn thắng, Thế là khiêm mà vẫn trị người Thế là kết hợp với Trời, Thế là diệu pháp của người đời xưa."
Huyền dụng
"Dùng binh xưa đã có lời, Thà ngôi tân khách, hơn ngôi chủ nhà. Tiến lên một tấc rầy rà, Thà lùi một thước vẫn là phần hơn. Chẳng đi mà vẫn tiến luôn, Khoanh tay mà vẫn đẩy muôn địch thù. Thắng người chẳng cứ đôi co, Chẳng cần binh lực vẫn thừa quyền uy. Hại thay những thói khinh khi, Càng khinh địch lắm càng nguy cơ nhiều. Rồi ra xơ xác đến điều, Bao nhiêu bảo vật ngọn triều trôi xuôi. Nên khi đụng độ tranh tài, Người nào thận trọng là người sẽ hơn."
Tri nan
"Lời ta dễ biết dễ làm, Nhưng mà thiên hạ chẳng am, chẳng tường. Lời ta nói có chủ trương, Việc ta vốn có lối đường chốt then. Nhưng mà tục tử ngu hèn, Hiểu ta chẳng nổi chuyện xem thường tình. Hiểu ta mấy bậc tinh anh, Ít người hiểu nổi nên danh càng lừng. Xưa nay những bậc thánh nhân, Ngọc tàng dưới lớp áo quần xác xơ."
Tri bệnh
"Biết điều không biết mới cao, Mờ điều đáng biết lẽ nào chẳng đau. Bệnh nàn mà biết lo âu, Rồi ra mới được trước sau khang cường. Thánh nhân bệnh hoạn chẳng vương, Vì hay phòng bệnh, nên thường khang an."
Ái kỷ
"Những người chẳng sợ chẳng kinh, Có ngày sẽ phải tan tành xác ve. Cửa nhà chật hẹp chẳng chê, Cuộc đời đáng sống chớ nề hà chi. Chẳng chê cũng chẳng khinh khi, Cho nên vui sống, còn gì hay hơn. Cho nên phàm đấng thánh nhân, Trọng mình nhưng chẳng tranh khôn với người. Yêu mình nhưng chẳng đua đời, Chẳng cần danh giá, chẳng đòi tiếng tăm. Nguồn cơn rõ lẽ biến hằng, Biết buông cái dở, biết cầm cái hay."
Nhiệm vi
"Can trường chẳng phải liều thân, Bằng hà bạo hổ có lần mạng vong. Can trường một dạ nấu nung, Nấu nung chí lớn, mới mong sinh tồn. Hai đường một mất một còn, Cùng là dũng cảm, thiệt hơn khác vời. Những điều chẳng hợp ý Trời, Mấy người hiểu được khúc nhôi vân mòng. Đến ngay những bậc thánh nhân, Cũng còn cảm thấy khó khăn lọ là. Trời xanh đường lối cao xa, Không cần tranh chấp thế mà thắng luôn. Không cần biện bác thiệt hơn, Thế mà đây đó vẫn thường nghe theo. Không mời thiên hạ tới đều, Thung dung mà vẫn muôn chiều thành công. Lưới trời lồng lộng mịt mùng, Tuy thưa mà chẳng chi từng lọt qua."
Chế hoặc
"Nếu dân chẳng quản tàn thân, Thời đem cái chết dọa dân ích gì ? Nếu dân nghĩ chết mà e, Giết người rông rỡ, răn đe mới toàn. Tử sinh Trời đã lo toan, Thay Trời giết lát để làm chi đây ? Như rằng thợ đẽo chẳng hay, Muốn thay thợ đẽo ra tay khoe tài. Khoe tài rồi sẽ mang tai, Trước sau âu chẳng thoát bài đứt tay."
Tham tổn
"Vì đâu dân phải cơ hàn ? Người trên sưu thuế đi bòn của dân. Sưu cao dân mới phong trần, Thuế cao dân mới kém ăn hao gầy. Dân mà ngang ngạnh bài bây, Là vì đã bị quát quay quá nhiều. Người trên sinh chuyện đến điều, Cho nên dân mới đâm liều phá ngang. Dân càng thích sống đàng hoàng, Lại càng vong mạng dễ dàng như không. Cho nên ai sống ung dung, Hẳn là hơn kẻ lao lung tối ngày."
Giới cuờng
"Mềm non là dấu sinh tồn, Khô khan cứng cỏi là chôn xuống mồ. Kìa cây cỏ nhởn nhơ mềm mại, Sống rạt rào thoải mái xanh tươi. Rồi ra cứng ngọn khô chồi, Xác xơ thôi thế là rồi đời cây. Càng cứng cỏi càng hay táng mạng, Càng dịu dàng càng đáng nhiêu sinh. Cho nên chớ ngại hùng binh, Hùng binh chưa chắc đã giành phần hơn. Cây càng rắn, càng dòn càng gãy, (Chịu búa rìu, biết mấy tang thương.) Phàm phu mới cứng, mới cương, Dịu dàng mới thực lối đường người trên."
Thiên đạo
"Đạo Trời như thể dương cung, Làm căng chỗ thấp, làm chùng chỗ cao. Bớt thừa bù thiếu khéo sao, Chỗ thêm chỗ bớt tơ hào chẳng sai. Lối người ngược lại lối Trời, Luôn bòn chỗ thiếu mang bồi chỗ dư. Ấy ai biết lấy chỗ thừa, Làm cho thiên hạ ấm no vẹn toàn. Của thừa đem giúp thế gian, Họa là đắc đạo siêu phàm mấy ai. Cho nên hiền thánh trên đời, Tuy làm mà chẳng có đòi công lao. Công thành dạ chẳng tơ hào, Chẳng mong tiếng cả ngôi cao cho mình."
Nhiệm tín
"Nước kia mềm mại mấy mươi, Mà chi cứng rắn cũng xoi cũng mòn. Trần gian chi dám tranh hơn, Trần gian chi dám tính toan thay vì. Mềm này lại thắng cứng kia, Yếu đua với khỏe, chiếm bề thượng phong. Điều này ai cũng thuộc lòng, Mà nào ai biết ra công thi hành. Thánh nhân đã nói phân minh: «Dám kham nhục nước âu dành đế vương. Giang vai gánh chuyện bất tường, Cho dân cho nước, lý đương trị vì.» Lời ngay nghe trái tai ghê."
Nhiệm khế
"Chuốc mua chi lắm oán thù, Rồi dàn, rồi xếp, sao cho vuông tròn. Cho nên những đấng thánh nhơn, Chẳng hề cầu cạnh, chẳng hờn trách ai. Thánh nhân thích chuyện cho người, Phàm phu tục tử ưa đòi, ưa vơ. Trời xanh chẳng có thân sơ, Làm lành thời sẽ thưởng cho ơn lành."
Độc lập
"Nước ta bé nhỏ, dân thưa, Lơ thơ tôi giỏi, ta chưa hề dùng. Dạy dân sợ chết làm lòng, Cho nên chẳng dám vẫy vùng phiêu lưu. Xe kia, thuyền nọ đìu hiu, Nào ai muốn lái, muốn chèo mà chi. Binh kia giáp nọ ủ ê, Chẳng hề dở dói đem khoe, đem bày. Dạy dân trở lại thắt dây, Sống đời thuần phác, tháng ngày tiêu dao. Ăn thường vẫn tưởng thanh cao, Mặc thường, vẫn tưởng bảnh bao chững chàng. Ở thường, mà vẫn tưởng sang, Sống thường, vẫn tưởng đàng hoàng, đẹp tươi. Lân bang nào cách mấy mươi, Gà kêu, chó sủa đôi nơi rõ ràng. Tuy rằng gần gũi tấc gang, Suốt đời dân chúng nào màng tới lui."
Hiển chất
"Lời ngay giản dị, tầm thường, Những lời xảo trá, văn chương mỹ miều. Người làm, chẳng biện luận nhiều, Khéo chiều biện luận, lắm điều gian ngoan. Trí cao chẳng bác, chẳng tham, Càng tham bác lắm, là càng ngu si. Thánh nhân chẳng súc tích gì, Càng cho càng có, càng chi càng giàu. Trời kia nào hại ai đâu, Thánh nhân nào có tranh nhau với người."